Nỗi bất hạnh tình yêu - Chương 17
Linh hoàn toàn không ngờ, chưa đầy ba tháng sau, thằng Hòa lại trở vào trại. Nó không can phạm gì cả và cũng không ai bắt giải nó đi. Nó tự dẫn cái thân xác rách rưới tàn tạ của nó trở vào nơi mà mọi người đang từng ngày, từng giờ mong thoát khỏi. Thậm chí có những đứa tìm cách này cách khác trốn đi để rồi sau đó bị truy tìm, bị trói dẫn về và bị tra tấn, đánh đập ê chề.
-Thế bây giờ mày đến đây để làm gì?
-Dạ thưa, chú thương tình cho cháu vào trại...
-Mày không nói đùa đấy chứ?...Đồ ranh con, cút xéo.
-Dạ mong chú rộng lượng....Hoàn cảnh cháu khó khăn quá. Cháu không thể ở ngoài được....
-Tao không đùa với mày, đừng có điên. Lần đầu tiên tao nghe mày nói.....
-Dạ quả là cháu không thể sồng ở ngoài được...Mẹ cháu khổ quá đã bị bệnh chết. Bà chết cùng với đứa em út của cháu...Mấy đứa còn lại, mỗi đứa đi ăn xin một nơi. Còn cháu, cháu không đi ăn xin được vì không ai lại bố thí cho một người sức vóc như cháu. Ăn cắp, cướp giật thì cháu sợ lắm rồi...Cháu chỉ mong đi bộ đội. Đi bộ đội dù sao cũng kiếm được miếng cơm ăn, lại được tiếng yêu nước. Và nếu cháu có chết, cháu cũng còn được tấm bằng liệt sĩ. Nhưng cháu chưa đủ tuổi. Cháu mong chú đừng từ chối cháu....Cháu quả thật bơ vơ quá. Chú cho cháu sống tạm ở đây. Chỉ hơn một năm nữa là cháu đến tuổi, cháu sẽ đi bộ đội....
Những tiếng sau cùng, giọng thằng Hòa rời rạc, như một kẻ chết đuối mới vớt lên. Nó ngồi bệt xuống đất, đầu nghiêng qua một bên, mái tóc bù xù có đến ba tháng chưa cắt, chưa gội....
Thằng Linh đứng lặng, nỗi đau thấm dần vào nó, làm nó bần thần, rã rượi. Nó không hiểu, trên đời này còn có đứa khổ hơn nó, nhục nhã gấp trăm lần nó....
- Nó khổ qua chú ạ. Thằng Linh lên tiếng xin cho bạn. Có ai lại tự mình dẫn xác đóng khung trong cái trại giam này đâu chú?
- Bảo nó đi theo tao lên gặp ban giám đốc trại, tao không có quyền. Bọn bay làm đi nhé. Tao mà trông thấy bọn bay thả cuốc là chết với tao đấy.
Linh cố đỡ thằng Hòa đứng dậy. Quả thật nó mệt lắm rồi.
- Chú cho cháu dẫn nó đi....
-Thằng này mánh. Từ đâu nó còn mò được tới đây, bây giờ đi vài trăm mét lên ban giám đốc lại không đi nổi à? Bọn bây vờ vịt để âm mưu gì đây.....Thôi, cút xéo đi ngay, không tao cho viên đạn vào đầu bây giờ.
Thằng Hòa không còn ngồi được nữa. Nỗi mệt mỏi và đói khát đã vượt quá gạch đỏ an toàn của cơ thể nó. Nó nằm dài ra, thở dốc.
Người lính gác đã nhìn thấy nó mặt mày xám bệch, mắt không cử động, mồm há hốc, hai mép sùi nước bọt....Mọi người cuống cuồng khiêng nó vào trạm y tế.
Thằng Hòa được ở lại một tuần lễ. Trông nó tươi tỉnh hẳn lên. Trên gương mặt ốm đói xanh tái đã lấp ló nụ cười. Nhưng giám đốc trại cương quyết đuổi nó đi.
-Ra ngoài ấy, cháu chết mất chú ạ.
Giám đốc nhìn nó với đôi mắt đầy hoài nghi.
- Mày đừng vờ vịt....Chết sống mặc mày. Mày biết đấy, trại này chỉ nhận phạm nhân. Ngoài ra, tao không có quyền. Đấy là nguyên tắc, hiểu chưa.
- Chú thương cháu, chú cho cháu làm gì cũng được, miễn có được ngày hai lưng bát cơm rau.
-Tao thương mày, ai thương tao? Đừng nói nhiều, ngày mai là phải cuốn gói.
-Bây giờ cháu biết sống làm sao đây...
-Việc ấy không phải trách nhiệm tao!
Thằng Hòa buồn rũ rượi. Nó không thể nào lay chuyển được tình thương trong lòng người giám đốc trại này. Giá còn chú Lê Văn. Tuy nghiêm khắc, nhưng chú ấy còn có trái tim. Những con người như thế, thường lại ít được lòng cấp trên.
Bọn trẻ rất nhạy cảm góp nhặt mỗi đứa một vài chi tiết và cuối cùng đan kết lại thành một mô hình: Giám đốc Lê Văn bị đi nhẹ nhàng theo lối thuyên chuyển công tác đến một nơi xa xôi hơn, heo hút hơn, ở đấy nước độc và sốt rét làm cho ông kiệt dần sức lực.
-Thôi cậu ạ, đừng hy vọng gì ở cái ông sắt đá ấy. Linh an ủi bạn. Ông ấy ác còn hơn quỷ sa tăng nữa đấy, bắt bọn tao làm quần quật suốt chín tiếng liền – không phải sáu tiếng như thời chú Lê Văn đâu nhé. Đứa nào mệt mỏi lơi tay....”mánh há”, lập tức roi mây xoắn lấy người. Bây giờ còn có cả roi cá đuối và roi gân bò nữa đấy cậu ạ. Tồi về bị nhốt kín trong nhà, không có một tia sáng lọt vào. Cậu xem, các cửa sổ thời chú Lê Văn cho mở ra, thời ông này cho xây trát lại. Trước đây cái sự học còn được khuyến khích, giờ thì chịu. Tuần được ngày vệ sinh, giặt giũ, ông ấy bắt sinh hoạt, học tập, họp hành, phê và tự phê...Nói tóm lại, bọn tớ không còn một mảnh thì giờ riêng tư nào cho cá nhân cả. Bọn tớ khổ lắm, nhục lắm. cậu xem bọn tớ, đứa nào cũng nơm nớp lo bị phạt, bị đòn. Mấy ông bây giờ dữ đòn lắm. đánh không biết thương hại trẻ con đâu cậu ạ....Bọn tớ sẽ gom góp cho câu ít tiền để ra ngoài ấy mà sống.....
Thằng Hòa im lặng thở dài.
-Tớ nhớ cậu quá.
-Tớ biết. Tớ với cậu không thuộc loại trẻ hư. Dù sao chúng mình còn biết điều phải trái.
-Vì sao cậu bị bắt lại?
-Họ bảo tớ ăn cắp. Có đơn tố cáo và có chứng cớ.
-Cậu phải hỏi chứng cớ gì?
-Nào họ có cho mình quyền được hỏi.
-Thì cậu phải hỏi cho ra nhẽ chứ.
-Tớ có hỏi, họ còn dọa tớ: “Đấy không thuộc trách nhiệm mày! Đã ăn cắp còn đòi làm thẩm phán. Muốn ở tù mọt gong hả?” Tớ có viết thư cho mẹ tớ, nhờ mẹ tớ nói với bố tớ minh oan cho, nhưng họ kiểm duyệt và phạt ba ngày giam hầm tối.....Thân tù tội, thời nào cũng thế thôi, cậu ạ.
-Thế mà ở ngoài, báo chí, đài cứ oang oang ca ngợi cái trại mình là trại giáo dục mẫu mực, cải tạo được nhiều em hư thành công dân lương thiện....Trại dùng phương pháp vừa học vừa làm, lấy lao động rèn luyện và cải tạo.....
-Họ cũng chỉ nghe báo cáo lại....Báo cáo thì bao giờ mà chẳng hay, chẳng đẹp. Điều quan trọng là họ nói đúng bài bản, chủ trương. Nói lệch đi, khác đi họ cũng chết. Miếng cơm manh áo của vợ con họ và cả của bản thân họ nữa. Họ bị ràng buộc nhiều thứ lắm, chẳng phải mình trần thân trụi như chúng mình đâu.
- Cậu nghĩ họ có biết chúng mình như thế này không?
- Người có lương tâm thì biết. Họ cũng khổ lắm đấy. Nhưng không làm khác được. Báo đài là công cụ của trên, phải nghe trên chứ ai lại đi nghe lũ phạm.
Hòa nghệch mặt ra. Nó không ngờ cùng tuổi mười sáu như nó mà thắng Linh lại hiểu biết và nói năng như một người lớn có học thức.
- Cậu thấy không – thằng Linh lại tiếp – cũng là Đảng, nhưng thời ông Lê Văn làm giám đốc trại, khác thời ông Trạch làm giám đốc. Đúng là một ông Thiện và một ông Ác. Cái ông ác thời nào cũng ác, còn cái ông thiện thời nào cũng lấy việc thương người làm mục đích. Thời ông Lê Văn, tụi mình đâu bị đối xử trâu bò như thế này. Hồi ấy ông còn tạo cho tớ điều kiện học hành. Bây giờ, mẹ tớ gởi sách học cho tớ mà ông ấy còn không cho nhận nữa kia. Ông không cho nhận bất cứ thứ gì, từ gói kẹo đến cân lương khô, gói đường đến cái quần, cái áo....
-Sao thế cậu?
- Ông ấy bảo đây là trại giam chứ không phải trại an dưỡng “Phải rèn cặp, phải cho chúng nó thấy khổ, thấy nhục để đừng bao giờ phạm tội nữa”. Cũng là một quan niệm....
- Ông ấy hắc xì dầu quá cậu nhỉ
Bây giờ thằng Hòa không còn hứng thú gì nài nỉ xin ở lại nữa.....Duy chỉ có điều ra đi, nó cảm thấy nhớ thằng Linh. Không phải anh em nhưng sao nó lại thương thằng Linh thế không biết nữa.
Trước khi lên đường trở lại cái xã hội mà nó đầy những mặc cảm, thằng Hòa còn hỏi nhỏ thằng Linh.
-Bố cậu làm lớn thế mà không xin được cho cậu ra à?
-Ai cũng nghĩ như thế.....
- Chắc thế nào đấy....Cậu thấy con trai ông bí thư tỉnh ủy vừa vào trại hôm trước, hôm sau có xe đón ra ngay không? Quyền lực đánh tan mọi tội lỗi. Giám đốc Lê Văn phản đối, lập tức bị thuyên chuyển công tác....
- Sao cậu biết chi tiết thê?
-Tại cậu cứ lo mải học, cậu không để ý đấy thôi.... Chứ cả trại này ai lại không thấy. Cậu có tin cái anh trung thực thời nào cũng khó sống không? Cậu có công nhận với tớ cái anh cố lấy lòng cấp trên bao giờ cũng thường mất lòng dân...
Hôm ra được tháng, tớ tìm đến cậu. Nhớ quá. Tớ đi suốt một ngày, gần tối mới đến nhà cậu. Hai thằng gặp nhau, được ngủ với nhau, được trút bao nhiêu điều vui buồn trong lòng. Không ngờ tớ gặp bố cậu ra mở cổng. Thấy mình ông sững lại, đôi mắt đảo từ trên tóc đảo xuống....Tớ sợ cái đôi mắt ấy quá. Nó vừa thâm vừa nham hiểm thế nào ấy....
-Thưa bác, cháu hỏi thăm anh Linh có nhà không ạ. Tớ gọi cậu bằng anh hẳn hoi nhé.
Lúc bấy giờ ông ta mới đổi màu sắc đôi mắt đó. Ông cười xởi lởi.
- À Linh đi vắng rồi cháu ạ....Cháu thông cảm đi chơi nơi khác nhá....
Ông ấy bóp ống khóa cái cách rồi đi vào.....
Đêm ấy tớ nằm ngoài lều chợ làng cậu, vừa lạnh, vừa bị muỗi cắn, vừa hôi thối....lại vừa ức. Chính cái đêm ấy, tớ nghĩ tới ánh mắt ông ta. Đúng ra cái ánh nhìn ấy cứ ám ảnh tớ mãi. Và cuối cùng tớ nghĩ, con người này thâm lắm...cậu không ở được đâu. Tớ đâu có ngờ cậu bị bắt vào lại trong này....
Thằng Hòa dừng lại, thở dài. Sau rồi nó tiếp:
- Cậu là người có học. Cậu khuyên tớ ra ngoài sống như thế nào đây?
- Khó qua. Tớ biết khuyên cậu như thế nào bây giờ. Thật thà thì không sống nổi. Ma mãnh, gian dối, lừa gạt thì tớ không dám khuyên. Nhưng một đứa trẻ không nhà không cửa, không công ăn việc làm, mà sống lương thiện thì chỉ có chết đói thôi... Hay với số tiền ít ỏi của bạn bè giúp này, cậu tằn tiện, buôn bán lặt vặt gì đấy kiếm sống qua ngày được không. Ví dụ cậu mua một cái ấm bán nước chè ở các bến xe, nhà ga chẳng hạn. Hay mua một cái búa đi bổ củi thuê....Đại loại như thế. Ra ngoài cậu tùy cơ mà ứng biến. Con trai đừng ăn căp, con gái đừng làm đĩ. Tớ sợ nhất là hai cái nghề ấy.....Hồi ấy, vì thương em, tớ đã bẻ trộm nhà ông Bân hàng xóm mấy quả ổi, mãi đến sau này tớ vẫn day dứt, vẫn ân hận, nó trở thành cái cớ để người ta dựng chuyện bắt tớ.....
- Việc bắt cậu vào đây, tớ nghi có bàn tay ông bố dượng cậu.
- Đừng nghi oan cho ông ấy. Bố Thuật tớ không đến nỗi thế đâu.
- Không có ông ấy bật đèn xanh, bố thằng nào dám động đến cậu.
-Thôi, thôi, cậu đừng nói đến chuyện ấy nữa, tớ không nghe và tớ cũng không muốn nghe đâu. Đằng nào tớ cũng ở đây rồi. Sang năm tớ lại ra.
-Tớ nói điều ấy vì cậu. Nếu không, cậu ra rồi cậu lại phải trở vào lại ....
.
Đấy là một đêm mùa đông, trời lạnh như có kim châm ở ruột gan, hai đứa nằm dưới nền xi măng, quấn chung một chiếc chăn sợi Nam Định đã sờn. Ngày mai chúng nó chia tay nhau, kẻ ở người đi, mỗi đứa đều thấy trước mắt mình con đường vô vọng. Thằng Hòa không biết sẽ sống ra sao. Thật khó mà tránh khỏi những ổ bùn nhầy nhụa, tội lỗi. Hóa ra muốn làm người lương thiện đâu phải dễ. Nó mệt mỏi, ngao ngán và tâm tưởng luôn nghĩ về một trận đánh nhau với quân thù. Nó không muốn chết ở một dòng sông, ở một cành cây hay kèo nhà. Cái chết như thế không ai thương, không ai trọng. Nó muốn chết ở bãi chiến trường. Chết như thế vinh hơn. Suy đi, nghĩ lại, chuyến này ra nó quyết bám theo mấy chú bộ đội. Những người đi ra trận đối mặt với cái chết, chắc là họ không ác như mấy ông ngồi trên ghế có đệm ở đây. Nó sẽ xin bất cứ việc gì, hoặc cấp dưỡng, hoặc giao liên, hoặc gì gì cũng được. Chỉ cần ngày hai bát cơm, vơi cũng được .....
Còn thằng Linh, dù nó có tự bào chữa thế nào thì lương tâm của nó cũng bắt nó trở về với bố Thuật của nó. Thằng Hòa đã nói đúng. Thỉnh thoảng nó bắt gặp cái ánh mắt khó hiểu như thằng Hòa đã gặp. Thằng Hòa nói đúng..... Không có bàn tay bố dượng nó, ai dám vu khống cho nó. Thế mà lâu nay mẹ nó luôn ca ngợi ông là người tử tế, là ân nhân của mẹ con nó.....
Nhưng rồi, nghĩ lại, nó lại trách nó: sao nỡ nghi ngờ bố Thuật. Quả nó chưa thấy ông nổi giận với nó, dù là một lần. Hôm mới về, ông còn trách mẹ Trang: “Ai lại để con ăn mặc như thế, người ta cười cho”. Lúc ấy nó cảm động thật sự. Và cũng chính ông chạy lo cho nó vào trường – vào hẳn lớp mười cơ mà. Nó biết ơn bố Thuật vô cùng. Đối xử với con riêng như thế là hết sức tử tế rồi, còn đòi hỏi gì hơn nữa. Còn việc bắt nó, đâu phải do ông ấy. Bố Thuật đi công tác trước ngày nó bị bắt hàng tuần lễ cơ mà. Lần trước cũng thế..... sao họ cứ nhằm vào lúc ông đi công tác để bắt nó là thế nào? Có điều gì uẩn khúc ở bên trong hay không? Nó không hiểu nổi ..... Nhưng sao ông ấy không xin cho nó, một người vô tội, mà lại xin cho con ông bí thư, can tội thật sự?..... Mẹ nói ông có xin nhưng không được. Bác Lê Văn lại hỏi nó: “Tại sao bố cháu ngại xin cho cháu ra?”
Nó thở dài và không hiểu thế nào cả.
Một lần, nó trốn về thăm bà cô, người còn lại duy nhất trong họ nhà nó. Bà cô đã ôm nó mà khóc. Sau đó bà đã đóng cửa lại và nói riêng cho nó: “Cô nghi ông Thuật có liên quan đến vụ án về bố Công của cháu...Nhưng cháu không được nói với bất kỳ một ai. Ông ấy quyền hành ghê gớm lắm. chưa đến lúc cô cháu mình đưa cái sự thật ấy ra ánh sáng được đâu. Nhưng nếu cô có chết thì cháu nhớ lấy điều ấy nhé. Đừng bao giờ được quên. Cháu chưa làm gì được thì nói lại cho con, cho cháu của cháu.”
Khi tiễn cháu ra về, cô còn dúi tiền vào túi của nó và dặn: “Nhớ chôn chặt những điều cô nói. Lộ ra là mất đầu....Nhưng cháu cũng đừng đến đây nữa. Họ nghi thì cháu lại khổ.”
Nó nghe lời cô, chôn chặt tất cả. Nó cố quên đi. Nhưng giờ thì....Thằng Hòa đã khơi gợi trong nó một mối nghi ngờ khác còn đắng cay hơn, chua chát hơn, bần tiện hơn. Nó chưa xâu chuỗi được việc đấu tố và đẩy bố Công nó trở thành một kẻ tội lỗi suốt đời, chui nhủi sống ở một góc rừng nào đấy với việc đẩy nó vào trại giam này có chung một đường dây, một mắt xích hay không. Ai tổ chức đường dây ấy? Ai tạo nên mắt xích ấy? Một người hay hai? Dần dần nó tự trả lời rằng: Đấy chắc chắn chỉ một người. Người ấy vốn là đồng chí của bố đẻ nó.
Trước đây nó mơ ước được trở về cái tổ ấm gia đình với mẹ với em, nhờ bố Thuật xin cho nó đi học. Đêm nào, trước khi bước vào giấc ngủ, dù mệt nhọc đến đâu, nó cũng ôn lại những định đề, những định lý của các môn khoa học tự nhiên, hoặc tự nhẩm lấy một bài văn. Nó làm đầy đủ từ mở bài đến kết luận. Nó đọc những dẫn chứng thuộc làu ngay cả trong giấc mơ. Nó hy vọng, nó quyết tâm vào đại học....Trường đại học là mục đích của cuộc đời nó.
Nhưng giờ thì, nó sợ quá cái tòa nhà uy nghi, tráng lệ kia. Trước đây, nó tự hào kiêu hãnh bao nhiêu về cái gia đình danh giá, về người bố - dù là bố dượng – tính tình điềm đạm và đầy lòng thương, thì giờ đây nó tởm lợm, muốn xa lánh bấy nhiêu. Con đường dẫn nó đến cổng trường đại học cũng chỉ là giấc mơ, mãi mãi không bao giờ đạt tới....
Hoang mang, nó không hiểu cuộc đời sẽ còn dẫn nó đi đến đâu. Nó sợ nhất là rơi vào tội lỗi. Hóa ra cuộc đời của nó cũng không hơn gì thằng Hòa. Nó quyết định không bao giờ trở về cai tòa nhà ấy nữa. Ở đấy nó có một căn buồng riêng. Ở đấy nó sống trong tình thương của mẹ nó, của em nó. Nhưng cũng hình như chính ở đấy, người ta đang giương ra trước nó một cái bẫy vô hình, nhưng lại đầy hiệu lực. Cứ mỗi lần nghĩ đến cảnh hai du kích mang AK và một công an mang K59 là nó đã sợ phát khiếp lên, mặt xanh như tàu lá, môi run, và tim đập cứ như trống ngày lễ.
Ai cho nó một lời khuyên chân thành như nó đã cho thằng Hòa về cuộc sống sắp tới đây. Bên nội chỉ còn cô Vi. Nhưng nó không dám làm gì để người ta biết nó liên quan đến cô Vi, nếu họ biết thì thế nào cô Vi cũng đi tù. Sao thế nhỉ? Nó cũng không biết nữa. Nếu thế thì lại một gia đình nữa tan nát.
Hôm nó đến, cô nó vừa mừng, mừng đến chảy nước mắt, nhưng cũng vừa sợ. Đôi mắt lúc long lanh niềm vui, lúc sụp xuống che giấu một nỗi buồn hay một nỗi sợ hãi nào đấy mà nó chưa hiểu được. Lúc ấy trông cô tồi tội thế nào ấy. Vừa muốn giữ cháu lại, cô vừa muốn đuổi cháu đi. Cô vừa muốn nói tất cả sự thật mà bao lâu nay cô ấp ủ cho cháu nghe, cô lại vừa sợ cháu mình bép xép thì tan cửa nát nhà.
“Cô chắc bố Công cháu còn sống, cháu cố tìm....” Cô thầm thì vào tai cháu câu ấy như cô đang họat động trong lòng địch.
Sẽ sống như thế nào bây giờ? Đấy là câu hỏi mà thằng Linh cứ nghĩ ngợi mãi vẫn không tìm ra câu trả lời. Nhiều lúc nó ì ra, mặc kệ, tới đâu thì tới. Nó bắt trí óc trở về với công thức toán, lý, những bài bình giảng....Đi vào các môn khoa học, dù là tự nhiên, hay xã hội, con người nó bỗng dưng thấy dễ chịu, nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn....Nhưng rồi tất cả cứ chuồi đi và đọng vào nó vẫn là câu hỏi chưa tìm ra lời giải: ra trại sẽ sống như thế nào? Làm sao tìm được thằng Hòa. Phải nhờ nó chỉ bảo giúp thôi. Lúc khó khăn có được một người bạn như nó, quí hóa biết bao nhiêu.
Sau bốn ngày lội bộ trong bùn đất và một ngày đứng trên tàu hoả, Linh trở về đến Hà Nội trong một buổi chiều cuối Đông heo hắt. Nhìn đồng hồ nhà ga mới hơn năm giờ chiều, nhưng sao cái cảm giác bơ vơ trong đêm cứ ám ảnh tâm trí nó. Từ đây về nhà, chỉ hơn năm mươi cây số. Đối với nó, 50 cây số không là gì cả, nó chỉ cuốc bộ một đêm thôi. Ở đấy, nó hiểu mẹ vẫn còn thương nó, thắc thỏm mong nó về từng ngày, từng giờ. Hai đứa em, thấy anh về, thế nào cũng loăn xoăn như hai con chó con chạy ra mừng rỡ, ríu rít. Nó sẽ ôm chúng vào lòng và nhận ở chúng những cử chỉ ngượng ngùng, bẽn lẽn…
Và cũng không hiểu từ lúc nào, quỉ ném cái đầu lâu, chùi máu trên mặt. Gương mặt trở nên sạch sẽ, nhẵn nhụi, hiền hoà. Dần dần, nó nhận ra đấy không phải quỉ nữa, mà là người, đúng hơn, đấy là bố Thuật….
Cơn mơ đã làm nó vã mồ hôi hột. Từ đấy, nó sợ cái ngôi biệt thự mà nó sống nhưng năm thiếu thời, thậm chí nó sợ cả mẹ, cả em. Nó nhận ra rằng, hơn ai hết, con người là giống quỉ, bởi chỉ có quỉ mới biết biến hoá, khi là ông Bụt, khi là tên đồ tể. Đối với nó bây giờ, con đường trở về nhà đầy dẫy nhựng vực thẳm – rơi xuống vực thẳm là rơi xuống tận cùng của cuộc đời.
Năm ấy Hà Nội đang có chiến tranh. Thỉnh thoảng dội nên giữa khung trời thanh bình tiếng cò báo động, nghe đến man dại. Bao nhiêu người hoảng hốt chạy đi tìm hầm. Nhưng riêng nó lại không thấy sợ. Bình tĩnh, nó đi qua đi lại trong một cái ga vắng vẻ, lưa thưa một vài người xuống tàu muộn, cùng với mấy nhân viên mang băng đỏ. So với cái trại giam nó vừa rời khỏi, nhà ga là một thiên đường đối với nó. Nó ao ước được đặt lưng ở một góc nào đó, đánh một giấc.
Bây giờ nó thấy nỗi mệt mỏi thấm vào xương cốt nó. Và đói nữa. Suốt từ sáng đến giờ nó chưa được ăn gì, cái dạ dày lép kẹp, cồn cào đến không chịu được. Thấy gì ăn được, nước giãi nó cứ tứa ra. Đi thẳng lại quầy mậu dịch, nó định mua một ổ bánh mì. Nhưng bà mậu dịch lại đuổi đi như xua một con chó ghẻ. Miệng thét, tay bà vung lên, đẩy ra…
- Không có gì đâu! Đi đi! Không có gì đâu! Bọn này từ trại nào ra mà nhiều thế không biết nữa. Rõ khốn nạn. Sống sao nổi với bọn chúng! Hở gì đớp nấy!
Nó không hiểu bà nói ai. Bởi lúc ấy cửa hàng bà chỉ có hai người, nó và một bà cụ ở quê ra.
- Bà nói ai thế? Nó thật thà hỏi lại.
Người đàn bà chạc tuổi mẹ nó, nhưng trông như một mụ phù thuỷ, hai súc thịt nơi má rung rung, mắt trợn tròn:
- Mày ngớ ngẩn không biết bà nói ai hả?
- Bà cho tôi mua một ổ bánh mì!
- Bà không “phục vụ” cho ngữ mày. Mày là một thứ quỉ!
- Bà nhầm rồi. Bây giờ thì nó đã bình tĩnh lại và nỗi tự ái làm nó quên cả cơn đói.
- Tao mà nhầm hả thằng quỉ sa tăng. Mày cút đi ngay! Mày nhìn gì tao? Mày định đớp gì đây? Quân khốn nạn, quân lưu manh, trộm cướp! Đồ ma vương, đồ quỉ dữ…
- Tôi đã bảo bà nhầm rồi.
- Nhầm! nhầm! Mày nói tao là quỉ hả? Ôi giời ơi! Bắt lấy nó. Nó ăn cắp! Quân ăn cướp! Mấy chú công an ơi! Cứu tôi với!
Tiếng bà kêu oang oang như sấm rền còn dễ sợ hơn cả tiếng còi báo động. Nó cũng muốn chạy, nhưng hai chân nó cứ chôn chặt một chỗ. Nó nhìn bà và cảm thấy buồn nôn. Giá bây giờ bà có bán cho nó một ổ nó cũng không buồn nhá nữa - nó kinh tởm lắm rồi.
Hai trật tự mang băng đỏ và một công an giắt khẩu K54 đã bước lại bao chặt lấy nó.
- Đi! Một mệnh lệnh, lạnh.
- Tôi mua bánh mì…
- Về đồn!
- Tôi không ăn cắp!
- Trói nó lại.
- Để tôi đi, không phải trói…Tôi không ăn cắp.
Nó bị tống vào một gian nhà kín như bưng, tường cao, mái bằng, không giường chiếu, không một mảnh chăn rách. Biết trong nhà có người, nhưng nó không nhận ra ai vì tối quá. Nó ngồi thu lu, xo mình trong một góc tường. Bức tường ẩm ướt, lạnh buốt. Nhưng mỏi quá nó phải dựa lưng vào đấy, chịu cái giá lạnh, cố hy vọng chờ nhà chức trách đến, nó sẽ khai rõ đầu đuôi.
Sao ở giữa Hà Nội, một trung tâm của Thủ đô như thế này mà người ta bắt người dễ hơn ở nhà quê bắt một con chó. Rùng minh, nó nghĩ đến cái trại giam nó vừa thoát khỏi, nghĩ đến con đường dài thăm thẳm, đất đỏ nhầy nhụa, dài tít tắp suốt mấy chục cây số, hai bên toàn những dãy núi đá hoa cương mà nó đã bì bõm suốt bốn ngày liền. Chưa một đứa nào thoát khỏi cái trại mà bố Thuật đã nói với mẹ nó đây là cái trường vừa học vừa làm. Mẹ nó vân tin đấy. Mai mỉa thế là cùng. Những người phụ nữ bao giờ cũng nhẹ dạ.
Có tiếng chân người bước lại gần. Một lúc sau nó mới nhận ra đấy là một người con gái, cũng chạc tuổi nó.
- Vừa “chôm” gì đấy?
Ngồi bệt xuống cạnh nó, cô gái nói một cách tự nhiên như hỏi một người bạn.
- Không! Nó đáp uể oải, bắt buộc.
- Đừng dối tớ nữa.
Linh mệt mỏi, định không trả lời. Nó hiểu đây là dân đầu đường xó chợ, đầu trộm đuôi cướp. Không hơi đâu mà dây vào lũ chúng nó. Nhưng một ý nghĩ khác lại loé lên, khuyên nó lên tìm hiểu đây là nơi nào, và những ai bị bắt vào đây? Biết đâu lại không có những người bị oan như nó. Đắn đo một lúc, nó hỏi:
- Đằng ấy vì sao phải vào đây?
- Làm đĩ.
Linh ớn lạnh. Câu trả lời gọn lỏn, không một chút ngượng ngùng. Lần đầu tiên nó nghe qua âm thanh một người con gái hai tiếng kinh tởm ấy một cách tự nhiên như hít thở khí trời vậy.
- Đằng ấy đùa với tớ đấy chứ?
- Vui sướng gì ở đây mà đùa.
- Mới bây nhớn đã đi làm cái việc nhục nhã ấy ư?
- Có gì là nhục nhã.
- Đằng ấy trơ trẽn quá…Thiếu gì việc lương thiện sao nỡ bán đi cái trinh trắng nhất của người con gái.
- Gì mà trơ trẽn…Đừng giả đạo đức, “ông nội”. Tớ chúa ghét mấy cha đạo đức giả. Mồm của ông Bụt nhưng cái ấy là của cụ Dê. Đằng ấy cán bộ gì?
- Không là cán bộ gì cả….Mới ở trại Phong Hoá ra.
- Phong Hoá, tớ hiểu rồi.
Phong Hoá rừng sâu rau má mọc
Đường đi chênh vênh vách đá dọc
- Đằng ấy có qua Phong Hoá rồi à?
- Không. Tội gì tớ phải vào đấy!
- Làm đĩ…mà còn….gì nữa.
- Làm đĩ là một cách mua bán sòng phẳng. Mình cần tiền, và người ta cần cái của mình. Thế thôi. Chẳng phải chôm chỉa của ai….Cái anh chôm chỉa như cậu mới là không sòng phẳng.
- Tớ mua bánh mì…Tớ có ăn cắp đâu.
- Đằng ấy có tiền?
- Không tiền sao gọi là mua.
- Thế mới gọi là chôm chỉa…Tớ không tin.
- Tớ không nói dối. Thằng Linh thật thà móc tiền ra trước cô gái.
- Đằng ấy chưa được ăn gì à?
- Suốt từ sáng đến giờ.
- Tớ còn bánh mì.
- Tớ không ăn của đằng ấy đâu.
- Đã bụi đời mà còn đẳng cấp. Đằng ấy quý tộc chắc?... Đã biết mùi mè chị em chưa? Tớ cho. Thôi ăn đi đã.
Cô gái dúi vào tay Linh ổ bánh mì như cục đá, rắn đanh và lạnh buốt. Nó phân vân, nhưng rồi bụng nó cồn lên những đợt sóng như cuốn nó vào giữa dòng thác của cơn đói thèm ăn.
- Đừng khách khí, được ăn, không mất tiền, không bị bắt, còn muốn gì nữa.
- Tớ trả tiền đằng ấy.
- Cậu muốn sòng phẳng, được thôi, tớ cũng muốn thế
Răng tốt, Linh gặm ổ bánh mì rồm rột nghe đến ngon miệng.
Đêm ấy, lần đầu tiên Linh ngủ bên một cô gái. Đúng ra cô bé đã ghì chặt lấy nó như một người mẹ che chở cho đứa con giữa cơn buốt giá của mùa đông Hà Nội. Nó tỉnh dậy khi có tiếng còi báo động. Cô gái vẫn riết lấy nó, giọng ngái ngủ.
- Đừng dậy, lạnh quá. Thằng Mỹ nó chẳng dại đem bom dội xuống chúng mình lần nữa đâu.
Bên ngoài đã nghe tiếng nhốn nháo, sôi động: tiếng réo gọi con của bà mẹ, tiếng còi rúc, tiếng la thét của cánh bảo vệ, tiếng chân chạy…
Linh hiểu người ta đang chạy tránh một cái chết bất ngờ, còn ở đây, chỉ cách nhau có bốn bức tường, cái chết như một thách thức đối với những con người đầy oan khiên., bất hạnh…
Sau này, không ngờ, cô gái lại trở thành người bạn thân nhất đời nó. Cô có cái tên rất bình dị: Sen – Nguyễn Thị Sen, vốn là một cháu ngoan Bác Hồ. Bố Sen, một kỹ sư, tốt nghiệp từ thời Pháp. Ông làm việc ở Viện khoa học. Suốt ngày ông lầm lũi với công trình khoa học của mình. Mẹ Sen là một nhà giáo. Sau Sen là ba đứa em giai, đứa nhỏ nhất lên sáu. Một quả bom đã dội đúng ngôi nhà của Sen. Hôm đó Sen vừa đưa đứa em đi sơ tán. Cái tin đau đớn không còn nước mắt để khóc nữa. Cuộc đời hai chị em lang thang. Cuối cùng, Sen đành phải gởi em về cho một bà dì ở quê - với điều kiện hàng tháng cô phải gửi tiền đầy đủ về cho bà.
Linh chợt nhận ra đời đầy những đau thương, và mỗi con người vào trại giam, đều chứa đựng những hoàn cảnh thật éo le. Nó ân hận về những ý nghĩ nặng nề đối với cô gái. Giá hoàn cảnh rơi vào nó, chắc nó cũng không biết chon con đường nào khác…
Cảm tình của cậu con trai bắt đầu bằng sự thông cảm và thương hại. Ngược lại người con gái có bản lĩnh không bao giờ chấp nhận sự thương hại của bất kỳ ai - kể cả người yêu. Tính tình cương trực, thậm chí ngang ngược, cô gái không bao giờ dung nạp sự dối trá.
Sau cái đêm hai đứa ôm nhau ngủ ấy, Linh phát hiện ra gói tiền mình dành dụm bao lâu nay bị mất. Tất nhiên, người đánh cắp không thể là ai khác ngoài Sen.
- Đằng ấy mất bao nhiêu?
- Một trăm năm mươi bảy đồng.
- Đằng ấy nghi tôi là đồ chôm chỉa.
- Tôi không dám nghĩ thế…Nhưng Sen thông cảm, còn ai vào đây nữa. Trước khi ngủ tôi còn sờ thấy.
- Tôi khốn nạn thế ư? Sen tự đấm vào ngực mình. Rồi, đứng phắt dậy, cô tụt hết quần áo ném vào mặt Linh, dang chân, dang tay nhìn chằm chặp vào mắt người con trai.
- Nắn bóp cho kỹ đi! Giọng cô phát ra, lạnh lùng, cay độc.
Thằng Linh hốt hoảng. Nó không hiểu sao cả. Thậm chí nó còn không dám đưa tay cầm bộ quần áo nữa huống là nắn bóp. Sợ đến phát sốt, phát rét, nó van vỉ:
- Thôi Sen ạ. Tôi xin lỗi….Mà tôi có dám nói, dám nghi ngờ gì bạn đâu.
- Được. Tớ sẽ tìm bằng ra cho đằng ấy.Nỗi bất hạnh tình yêu - Chương 19
Cô ấy vẫn chưa chịu mặc quần áo. Để nguyên thân thể nõn nà ấy, cô lùng sục lại phía bức tường đối diện, nơi hai cậu bụi đời đang ôm nhau ngủ, rất say.
- Dậy, đừng ngủ vờ.
- Á, á…Dạ em xin trả.
Linh chứng kiến cảnh tra tấn rất lạ kỳ của cô gái.
- Tớ xin lỗi bạn…Vừa nói nó vừa đưa cho cô gái một phần số tiền của nó.
Sen lắc đầu và mặc quần áo vào.
- Linh để mà tiêu. Sen không lấy đâu…
Sen không nhận tôi buồn lắm. Không nhờ Sen, tôi mất sạch.
- Linh cho Sen là hạng người gì? Sen làm đĩ thật, nhưng còn nhân cách bằng vạn một số thằng đang ngồi trên ghế đệm ấy.
Thằng Linh không dám nài nỉ nữa. Nó phục một nhân cách.
- Liệu đến bao giờ họ thả chúng ta ra hả Sen? Linh ngờ nghệch hỏi.
- Còn lâu. Chuẩn bị vào trại thì có. Họ chờ tống vào đây cho đủ chuyến xe để họ chở đi.
- Nhưng tôi không ăn cắp. Sen biết đấy, tôi có tiền, tôi mua cơ mà.
- Nhà chức trách không cần biết điều ấy. Chỉ cần nhìn cái đầu trọc của cậu, cái gương mặt háu đói của cậu cộng với lời hô hoán là đủ lý do họ tống đằng ấy vào trại giam rồi.
- Vô lý quá.
- Cái lý đâu thuộc về chúng ta, lúc này nó thuộc về những ty có quyền kia chứ.
May mắn cho bọn chúng. Một quả bom dội gần đấy, đánh tung cánh cửa gỗ ra xa bức tường. Cả bốn đứa không có việc gì.
- Chạy thôi…
Sen nắm tay lôi Linh chạy ra ngoài giữa tiếng phản lực Mỹ gầm rú…
Bắt đầu từ đấy, thằng Linh sống cuộc đời khác hẳn: cuộc đời của những đứa bụi đời thật sự, lang thang không nhà, không cửa, bạ đâu ngủ đấy. Duy chỉ có điều nó không ăn cắp, không làm điều xằng bậy. Cô gái điếm đã trở thành bạn thân của nó, bày cho nó đến mậu dịch lấy bánh mì về bán ở ngay nhà ga. Có ngày nó kiếm cũng được vài đồng bạc. Ăn uống xong nó cũng dành dụm được một đồng.
Cuộc sống như thế, đối với nó cũng tạm ổn. Nó cảm thấy yên tâm, khỏi lo bị bắt vào trại lần nữa. Nhưng điều nó day dứt không lúc nào nguôi là mong mỏi tìm gặp được bác Phương, người bạn tri kỉ của bố Công nó. Gặp được bác nó sẽ lần tìm được ra bố đẻ nó. Nó tin chắc bố nó còn sống. Nhiều cơn mơ cho nó gặp bố Công, khi ông đang chỉ huy một trận đánh, khi ông đang hành quân…Đối với nó, những lần như thế là niềm hạnh phúc thiêng liêng.
Gặp bất kỳ chú bộ đội nào lớn tuổi, hai ba sao trở lên, nó đều tìm cách lân la dò hỏi. Nó hy vọng đấy có thể là bạn của bác Phương hoặc của bố nó. Nó làm công việc ấy âm thầm, lặng lẽ nhưng hết sức kiên trì. Chưa bao giờ nó cảm thấy nản.
Sen đi vắng vài ba hôm, lại trở về thăm nó. Cô dẫn nó đi ăn phở Ga, phở Sinh Từ, phở Lò Đúc…Những hiệu phở ngon có tiếng thời ấy.
- Tớ vừa chài được thằng cha vụ trưởng. Già nhưng chịu chơi. Nay tớ bao đằng ấy.
- Vụ trưởng mà lăng nhăng thế ư? Thằng Linh nghệch mặt lên, thật thà hỏi. Đối với nó, đã vụ trưởng thì phải hết sức nghiêm, thấy gái điếm là phải vội vàng quay mặt đi và căm thù…
- Cậu ngây thơ quá. Thằng đàn ông nào lại không háu gái đẹp, gái tơ. Đạo đức giả cả thôi, đằng ấy ạ. Cậu cam đoan gì, tớ chài cả thứ trưởng cho cậu xem. Đám ấy ăn uống sung sướng, vợ lại già, tắc tị…Thôi, chuyện của tớ nhăng nhít thế đấy…Còn cậu mấy hôm nay làm ăn ra sao?
- Đủ ăn..
- Nhờ giời mong được thế mãi.
- Sen định sống như thế suốt đời hay sao?
- Không. Tạm một thời gian đã. Phải kiếm một thằng nhân tình, già cũng được, giám đốc là thấp nhất, bộ trưởng hơi khó hoạt động, lừng chừng ở giữa là cục, vụ trưởng. Phải bắt chúng nó chia sẻ bớt cái sự sung sướng sang những kẽ khốn cùng như bọn mình chứ.
- Đừng làm thế, tớ thấy nó nhẫn tâm thế nào ấy.
- Lập trường giai cấp đằng ấy rõ ràng quá a. Tớ không ngờ đằng ấy lại thương hại bọn “đầy tớ” dân ăn trên ngồi trốc ấy.Toàn là bọn xu nịnh, trên bảo dưới vâng.
- Trong họ cũng có nhiều người tốt…Dù sao giấy rách cũng cố giữ lấy nề, Sen ạ.
- Khỏi lo. Đã rách cho rách luôn.
- Đằng ấy có thể kiếm sống như tớ. Dù sao cái nghề của tớ nó vẫn còn lương thiện.
- Chẳng có cái nghề nào lương thiện ở trong cái xã hội này cả, ngoài cái nghề làm anh cu li cho nhà nước và làm lãnh đạo không có cái đầu riêng. Đằng ấy là con buôn, tớ là con điếm, cả hai đều bị người ta khinh rẻ như nhau và đều có thể bị lôi vào nhà giam, vào các trại cải tạo bất kỳ khi nào.
- Nhưng mà…
- Không có nhưng gì hết.
- Cậu hơi ác!
- Đời ai người ta thiện với tớ…Ngay cái bà dì thuộc dòng họ tớ kia, nuôi một thằng cháu sáu - bảy tuổi mà cũng phải sòng phẳng với tớ, thiếu một hào cũng không được: mỗi tháng 30 đồng. Quà cáp không kể. Cộng tất cả các khoản bằng lương cán bộ đại học rồi…Cậu khuyên tớ sống như cậu, lấy gì tớ nuôi em. Chẳng lẽ lôi nó ra ném dưới sông à.
Từ đấy Linh im lặng. Cậu cảm thấy bất lực trước những lý lẽ kỳ cục của người bạn gái cùng lứa tuổi. Chẳng bao giờ Linh gặp một người con gái ngang ngạnh, thật thà tới mức trần trụi, có những ý nghĩ ngược đời, nhưng suy cho cùng, nhiều điều vẫn có cái lý riêng của nó. Con người ấy, tưởng không biết sợ ai, không biết coi ai ra gì, con người ấy tưởng không còn con tim…
Nhưng Linh đã nhầm. Có đêm lạnh, cô chuồi ra khỏi chiếc chăn hai đứa vẫn đắp, co người lại như con tôm, nghẹn ngào, đau đớn trong những dòng nước mắt. Những lúc ấy, dù Linh có năn nỉ, có an ủi vỗ về sao, cậu cũng không thể nào cạy răng Sen hé lấy một lời. Lấy chăn cậu đắp cho cô, cô lại tung ra.
Vào một lúc vui vẻ nhất, Linh lại hỏi:
- Đằng ấy có gì dấu tớ?
- Những lúc như thế, đằng ấy nên để mặc tớ. Tớ không thích ai thương hại đâu…
- Nhưng tớ rất sợ tiếng khóc của phụ nữ….
- Làm thằng con trai thế là hèn, chẳng cất nổi đầu lên để làm nên trò trống gì đâu…Và điều quan trọng là những con mụ đàn bà ấy sẽ hại cậu suốt đời. Nhớ nhé, đừng có nhẹ dạ, mềm yếu trước các mụ đàn bà.
- Tớ không thể nào hiểu đằng ấy được. Ác khẩu vừa vừa thôi, cậu à.
Hai tính cách khác hẳn nhau, thậm chí ngược chiều nhau, nhưng họ lại trở thành một đôi bạn chân tình trong những năm ngặt nghèo nhất trong cuộc đời mỗi người, họ đã dựa vào nhau, chia se với nhau từng niềm vui nhỏ bé và những nỗi buồn mênh mông.
Cứ vài hôm Sen lại trở về thăm Linh một lần ở ga Hàng Cỏ. Lần nào, Sen cũng mua cho bạn, khi tấm bánh, khi cái khăn mặt, cái bàn chải hoặc đôi dép…Có lần Sen tặng Linh cả một chiếc đồng hồ Vile của Thuỵ Sĩ.
Đêm nào bị công an và trật tự đuổi gắt, đôi bạn lại đưa nhau lền gầm cầu. Ở đấy là khu tuyệt cấm, bởi nó là mục tiêu quan trọng của máy bay Mỹ. Nhưng đối với Linh và Sen, nó là nơi an toàn nhất ít bị xua đuổi nhất. Đôi bạn lại trải một tấm nylon và quấn chung với nhau một chiếc chăn Nam Định. Họ lại tận hưởng với nhau những giây phút ấm áp nhất, tình cảm nhất. Cô gái lại ôm chàng trai vào khuôn ngực tròn trĩnh của mình, đặt lên đôi má cậu ta, lên đôi môi cậu ta những chiếc hôn mạnh mẽ…Những câu chuyện chảy dài theo tình cảm nồng thắm của hai người. Biết bao nhiêu chuyện mà họ đã gặp, đã va chạm trong cuộc đời. Và sáng hôm sau họ lại chia tay….
- Tớ rất ghét những cuộc chia tay bịn rịn, Một lần Sen nói với Linh.
Linh, ngược lại, những cuộc chia tay bao giờ cũng làm cậu xao xuyến, buồn buồn. Đứng im lìm như ngọn cây trước buổi trưa hè đứng gió, mắt dõi theo từng bước chân của người bạn gái, lòng rười rượi… Cậu luôn cảm giác như có cái gì vừa rứt ra khỏi mảnh tâm hồn trễ tràng của cậu, khiến cậu băn khoăn, khiến cậu xốn xang.
Đối với Linh, Sen vẫn là một khối đầy bí mật. Hơn nửa năm sống với nhau trong tình bạn man dại, cậu cũng chỉ bắt được một phần mười tính cách của người con gái. Nhưng rồi chính Linh cũng tự thú : “ Không, Sen không phải là cô gái lúc nào cũng chỉ đùa với cuộc đời, ngược lại nàng là một cô gái sống chủ yếu bằng nội tâm, bằng chiều sâu của con người. Cô ấy có một trái tim dễ rung động. Ta đã cảm nhận từng rung động của con tim ấy qua những trăn trở, thao thức….Chỉ có điều nàng có một sức mạnh riêng của mình, sức mạnh của lý trí. Nàng đã lấy lý trí ấy che đậy chính con tim bị rớm máu của nàng”.
Sau này trong cuốn nhật ký của Linh mà bạn bè tìm được có nhiều đoạn đầy trân trọng về người con gái làm tiền này: “…Đối với tôi, Sen là cứu cánh, là niềm tin là một cái gì đấy vô cùng cao cả, vô cùng thiêng liêng. Cô ấy đã đến với tôi thật thà đến trần trụi, trong lúc tôi đang chơi vơi như người chết đuối giữa dòng. Sen đã cho tôi biết rõ hơn mặt sau của cuộc đời. Nó cũng nhầy nhụa và hôi tanh như những vũng bùn mới hốt từ dưới cống lên. Tôi không muốn em chìm ngập trong ấy. Nhưng em lại luôn tự hào rằng, em sòng phẳng. Em cho rằng: em trong sạch hơn những thằng cán bộ suốt đời chỉ biết ăn quỵt và nói phét. Đấy là những loại đạo đức giả, luôn khuyên nhủ dạy bảo người ta vươn tới một cái chủ nghĩa thật cao đẹp, trong khi chính họ lại sống trần trụi đầy những ham muốn thấp hèn.
Cái nghề “con buôn” vặt vãnh của anh, không cho anh thấy được gì đầy đủ đâu. Còn em, em thấy từng cái lỗ chân lông bẩn thỉu của nhừng thằng đạo đức giả ấy”. Một lần nào đấy, em đã tâm sự với tôi như thế.
Chúng tôi sống với nhau trong tình bạn cao cả và cũng thật khó hiểu với người đời, cho đến lúc tôi gặp một người con gái mặt mũi bơ phờ, chạy qua chạy về như một người điên ở giữa sân ga Hà Nội, con người sau này đã trở thành vợ tôi. Từ đấy tôi xa em…
Em có cái tên rất dễ thương – Vang Khương Ly. Và gương mặt em nhẹ nhàng, hấp dẫn. Dù mới gặp một lần, ít ai có thể quên được em. Đôi mắt em lúc nào cũng như xa xăm, tư lự. Đôi mắt ấy luôn lấp lánh cái ánh thông minh và sức quyến rũ khác thường. Mỗi khi em đưa bàn tay thon thả vén mớ tóc xòa trước mắt, vầng trán em hiện lên thanh cao và trong sáng. Tôi yêu em có nhẽ từ vầng trán cao và thông minh ấy chăng. Tôi cũng không rõ. Nhưng mỗi lần xa em, tôi lại nhớ em qua cái vầng trán cao thanh nhã ấy. Cái vầng trán ấy, cái đôi mắt ấy gợi tôi tính cách một người con gái: thủy chung và son sắt. Khi em đã yêu ai, người ấy là thần tượng của em suốt đời.
Hồi ấy vào mùa thu. Hà Nội se lạnh – ngọn gió heo may đang tràn vào thành phố. Chiều muộn. Mùi hoa sữa bay lên xôn xao phố phường. Đèn nhà ga đã bật sáng. Những đóm sáng leo lắt trong khung thời gian tranh tối, tranh sáng: Đêm đang đến, nhưng ngày chưa qua. Vào cái buổi hoàng hôn xa mờ ấy, tôi gặp được em với dáng một cô gái hốt hoảng, mặt xám bệch, miệng ú a ú ớ… giữa sân ga Hà Nội. Mọi người nhìn theo em thương hại, trách móc, giễu cợt.
Tôi vẫn ngồi trên bậc tam cấp ở cửa ga, ôm chặt cái thúng bánh mì ế ẩm. Loáng thoáng qua tai tôi tiếng một ai đấy: đồ điên! Tôi không nghĩ thế. Chắc em gặp một tai họa gì ghê gớm. Thỉnh thoảng có người đến mua bánh mì, tôi cũng không buồn trả lời. Tôi để họ tự chọn, tự bóp nắn từng chiếc bánh mì khô khốc và tự bỏ tiền vào thúng. Đôi mắt tôi vẫn không rời được cô gái…Con tàu điện lăn bánh, leng keng chạy tới. Tiếng chuông càng lúc càng hối hả. Cái tiếng ấy đập tới tấp vào tai tôi, khiến tim tôi đập thốn lên. Có nhiều tiếng kêu xé lên. Nhưng cô gái vẫn không nghe thấy gì. Tâm trí cô miên man những gì không ai biết được.
Tôi không giữ được mình nữa. Bỏ thúng bánh mì ở bậc tam cấp, tôi vùng chạy ra phía cô gái. Lúc ấy con tàu chỉ cách cô khoảng hai mét. Tôi nắm chặt hai cánh tay cô, lôi cô ra khỏi cái lằn ranh của sự chết. Cô gái bị bất ngờ, suýt ngã, cố giằng khỏi tay tôi. Nhưng dù sao con tàu điện vẫn an toàn và cô gái vẫn theo tôi.
Cô nhìn tôi, đôi mắt khó chịu
- Cô không thấy tàu điện à? Vừa dìu cô gái vào bậc tam cấp, nơi cái thúng bánh mì tôi vẫn còn nguyên, tôi vừa hỏi.
Cô gái nhìn tôi, cái nhìn nghi ngờ.
- Ngồi đây tí đã… Bận sau thấy tàu điện là phải tránh nhé.
Cô vẫn không tỏ ra một thái độ nào chứng tỏ cô nghe tôi.
- Mình đi trên đường tàu, tàu cán là thiệt, không ai chịu trách nhiệm đâu.
Vẫn không một lời đáp.
- Nhà cô ở đâu?
Vẫn đôi mắt ngơ ngác và hãi hùng ấy, cô khoan cái nhìn vào tôi.
Và tôi hiểu, bây giờ có hỏi thêm gì cũng bằng thừa. Im lặng, tôi giữ cô ngồi cạnh với hy vọng thời gian sẽ làm cô trấn tĩnh lại. Bởi tôi hiểu, qua đôi mắt rất tinh khôn của cô, cô không phải người bị bệnh tâm thần. Mắt những người điên: ngay những lúc tỉnh nhất, bao giờ cũng có dấu hiệu dài dại, thiếu hẳn cái trong suốt của thủy tinh thể bình thường. Cô ngược lại…
Đúng như tôi nghĩ, độ một giờ sau, khi thành phố đã lên đèn, cô gái gỡ tay tôi ra, đứng bật dậy, đòi đi.
- Cô đi đâu bây giờ? Tôi hỏi, giọng nhẹ nhàng cốt để cô khỏi sợ.
- Em về nhà. Đấy là tiếng đầu tiên tôi nghe được ở cô gái sau gần hai tiếng đồng hồ. Giọng cô gái ấm áp, phát âm hơi rời nhau.
- Nhà em gần đây không?
- Xa lắm… Trên Lạng Sơn cơ.
- Bây giờ làm gì có tàu.
- Em đi bộ. Có tiền đâu mà về tàu. Cô gái òa khóc.
Tôi đã hiểu.
Em là con gái đầu lòng của một gia đình miền núi. Sau em là một cậu con trai và một cô gái. Mẹ đẻ năm một, ba chị em sàn sàn một lứa.
Năm 1965, bố trở lại bộ đội và không lâu sau đấy ông vào chiến trường miền Nam. Mãi năm năm sau ông mới trở ra, sống với mẹ con em một tháng, ông lại trở vào. Ly được bố cưng nhất, cho đi Hà Nội tiễn.
Hai bố con sống ở Hà Nội được một ngày. Trước khi lên chiếc xe commăngca màu rêu vải bạt, trở lại chiến trường, ông còn kịp dẫn con đi dọc đường Nam Bộ, mua sắm mũ nón, dép mũ cho từng đứa. Tất cả dồn vào một cái túi du lịch có khóa kéo rất bảo đảm. Tiền nong và cả chiếc vé tàu ông mua cho Ly cũng được cất kỹ càng vào đấy.
Ông lên đường chưa được bao lâu thì... Chiếc túi du lịch em hoàn toàn tin tưởng ở chiếc khóa kéo kia đã không cánh mà bay tự lúc nào...
Lần đầu tiên em bơ vơ. Giữa Hà Nội đông đúc mà em cảm thấy như mình đang lạc vào giữa cánh rừng hoang vu bí hiểm đầy những loài thú dữ. Cơn xốc quá mạnh đối với một cô gái ngây thơ và trinh trắng quanh năm suốt tháng chưa bước chân ra khỏi cái làng mộc mạc và thanh bình quê mình.
Tôi đã đến với em chân tình như một người thân thuộc. Em ngỡ ngàng và khước từ tình cảm chân thật của tôi.
- Anh không lừa dối em đâu. Tôi nói. Em cứ yên tâm ngồi đây, lát nữa người ta bán vé, anh sẽ mua vé cho em về.
Cô gái im lặng. Qua ánh đèn tù mù thời chiến, thỉnh thoảng em liếc nhìn tôi. Tôi bắt gặp những cái nhìn thăm dò vụng về ấy. Không tự ái, tôi hiểu và thông cảm bởi nhẽ, cô mới như con chim non vừa bị trúng tên. May mà không chết. Nhưng cũng chính vì thế mà gặp bất kỳ điều gì khang khác đều làm em lo sợ, nghi ngờ...
- Em ngồi đây, trông cho anh thúng bánh mì. Anh sẽ đi mua túi du lịch, quần áo cho các em, dép khăn cho mẹ.
Bây giờ thì tôi gặp cái nhìn tròn xoe của em.
Không chờ câu trả lời của em, tôi ra đi. Gần một giờ sau, tôi trở lại với đầy đủ những thứ mà em đã mất. Em vẫn ngồi im lìm như cây liễu rủ bên hồ im gió. Sau này, trong những ngày sống ở Trường Sơn, mỗi lần nhớ lại gương mặt em lúc ấy, gương mặt lặng lẽ với đôi mắt đen sâu thẳm nhìn vào mắt tôi với câu hỏi : Thật – Giả, tôi mới kịp nhận ra, gương mặt ấy, đôi mắt ấy là của hội họa, của điêu khắc, ấn tượng đến dễ sợ...
Để em có thể tin tôi phần nào, tôi kéo phécmơtuya, cẩn thận lấy đưa ra trước em từng chiếc áo, từng chiếc quần còn nguyên mùi hồ. Đây là phần của mẹ, đây là phần của Ly, đây là phần của các em... Trước khi kéo khóa, tôi còn gói biếu em bốn ổ bánh mì.
- Trong này anh có để ít tiền – ngay trong túi áo của em – phòng có gì bất trắc, em dễ xoay xở, tôi dặn dò rồi trao lại cái túi cho em.
- Em không hiểu gì cả ? Sao lại thế này ? Em thành thật.
- Anh giúp em trong cơn hoạn nạn. Anh không đòi hỏi gì ở em đâu.
- Em không tin. Em van lạy anh. Đừng đùa với em nữa. Em như người mất hồn rồi.
- Em không tin anh là phải. Bởi em vừa bị một lũ đểu nào đấy cuỗm sạch. Anh chỉ muốn nói với em, anh không phải là lũ đểu đấy.
- Em chưa bao giờ gặp và thậm chí chưa bao giờ nghĩ trên đời này, nhất là giữa cái ga Hàng Cỏ đầy rẫy những bọn lưu manh lại có một người tốt như anh.
- Ở đời còn nhiều người tốt, chẳng phải riêng anh. Mong em đừng nghi ngờ gì… Anh đã từng qua cửa ải đau khổ và mất niềm tin. Có nhẽ vì thế, nên hơn những người khác, anh thông cảm hoàn cảnh của em. Tạm thời mong em chấp nhận như thế và vui vẻ trở về. Còn đánh giá, còn bình luận anh thế nào, hẵng thư thả cũng chẳng muộn… Tốt nhất là em hẵng quên anh đi… Bây giờ em ngồi đây, giữ cái túi này thật kỹ, tròng tay vào quai thế này này, anh vào xem bán vé chưa. Anh sẽ mua vé để em về tận quê. Từ ga về nhà chắc còn xa?
- Hơn mười cây số…